Đổi nhà máy gia công là việc chuyển hoạt động sản xuất một sản phẩm đã có hồ sơ công bố sang một cơ sở khác. Vì hồ sơ công bố gắn với một cơ sở sản xuất cụ thể, việc chuyển này luôn kéo theo thủ tục hành chính, chuyển giao tài liệu kỹ thuật và kiểm nghiệm lại chứ không đơn thuần là đổi địa chỉ trên đơn đặt hàng.
Tình huống này phổ biến hơn nhiều người tưởng. Nhà máy giao chậm nhiều lô liên tiếp, kết quả kiểm nghiệm dao động, bạn muốn nâng chất lượng lên một bậc hoặc chuyển sang sản xuất tại Nhật Bản để có câu chuyện thương hiệu khác. Dù lý do là gì, câu hỏi đầu tiên luôn là toàn bộ hồ sơ đã làm có mất trắng không.
Câu trả lời ngắn là không mất trắng, nhưng cũng không tự động đi theo bạn. Có một phần hồ sơ thuộc về bạn, một phần thuộc về nhà máy, và một phần nằm ở vùng xám do hợp đồng chưa nói tới. Bài viết này tập trung vào phần thực hành mà ít tài liệu nào nói rõ, đó là bạn phải lấy lại những gì trước khi chấm dứt quan hệ với nhà máy cũ, và những rủi ro kỹ thuật nào chờ bạn ở nhà máy mới.
Một lưu ý về phạm vi. Phần thủ tục pháp lý của việc công bố lại đã được trình bày riêng ở bài công bố lại thực phẩm chức năng khi nào, gồm cả bảng quyết định đầy đủ cho mọi loại thay đổi. Ở đây chỉ nhắc lại phần liên quan trực tiếp tới việc đổi nhà máy, rồi đi sâu vào những việc còn lại.
💬 Đang cân nhắc chuyển sản phẩm sang một nhà máy khác? Xem trước dịch vụ gia công OEM/ODM thành phẩm của Sunsho Trade tại nhà máy đối tác đạt chuẩn GMP ở Việt Nam và Nhật Bản, để biết nhà máy mới có thể cấp được những chứng từ nào cho bộ hồ sơ của bạn.
Đổi nhà máy không chỉ là đổi nơi sản xuất
Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm được cấp cho một sản phẩm cụ thể gắn với một cơ sở sản xuất cụ thể, nên khi cơ sở đó thay đổi, bạn luôn phát sinh nghĩa vụ với cơ quan quản lý, chỉ khác nhau ở mức độ nặng nhẹ.
Thực phẩm bảo vệ sức khỏe thuộc diện phải đăng ký bản công bố sản phẩm, và hồ sơ đăng ký theo Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP bao gồm cả giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP), áp dụng từ ngày 01/7/2019. Giấy GMP đó là giấy của nhà máy, không phải giấy của bạn. Đổi nhà máy nghĩa là tài liệu này trong hồ sơ của bạn không còn mô tả đúng thực tế nữa.
Mức xử lý hành chính đi kèm được xác định theo khoản 4 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP với nhóm phải đăng ký bản công bố, và theo khoản 4 Điều 5 cùng nghị định với nhóm áp dụng cơ chế tự công bố: chỉ khi thay đổi chạm tới tên sản phẩm, xuất xứ hoặc thành phần cấu tạo thì mới phải công bố lại, các thay đổi khác chỉ thông báo bằng văn bản và được sản xuất, kinh doanh ngay sau khi gửi thông báo. Cách quy chiếu từng tình huống về đúng mức xử lý, kèm bảng quyết định đầy đủ cho mọi loại thay đổi, nằm ở bài công bố lại đã dẫn ở đầu bài.
Nhưng phần pháp lý mới là nửa dễ. Nửa khó nằm ở chỗ nhà máy cũ đang giữ những thứ bạn cần, và một khi hợp đồng đã chấm dứt thì bạn mất hết đòn bẩy để đòi.
Những thứ phải lấy lại từ nhà máy cũ trước khi chấm dứt
Đây là phần giá trị nhất của cả bài, vì thời điểm duy nhất bạn còn quyền thương lượng là lúc hợp đồng chưa chấm dứt và tiền chưa thanh toán hết.
Sau khi ký thanh lý, quan hệ giữa hai bên chỉ còn những gì hợp đồng ghi. Nếu hợp đồng không có điều khoản bàn giao tài liệu, nhà máy hoàn toàn có thể từ chối, và bạn không có căn cứ nào để buộc họ. Bộ luật Dân sự 2015 chỉ nói tới việc hoàn trả vật chất. Điều 553 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khi hợp đồng gia công chấm dứt, bên nhận gia công phải hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nguyên vật liệu thì có, tài liệu thì không được nhắc tới.
Năm nhóm dưới đây là những thứ bạn nên đưa vào danh sách bàn giao ngay từ lúc bắt đầu đàm phán chuyển đổi.
| Tài liệu cần lấy lại | Ai đang giữ trên thực tế | Căn cứ liên quan | Hệ quả nếu không lấy được |
|---|---|---|---|
| Công thức định lượng chi tiết và tiêu chuẩn cơ sở đang áp dụng | Bộ phận kỹ thuật của nhà máy cũ | Hợp đồng gia công; đây cũng là bộ chỉ tiêu mà sản phẩm phải khớp khi bị hậu kiểm | Nhà máy mới không biết phải sản xuất ra đúng cái gì, phải dựng lại công thức từ đầu |
| Hồ sơ lô sản xuất của các lô đã chạy | Nhà máy cũ, theo nghĩa vụ lưu giữ của chính họ | Phụ lục Thông tư 18/2019/TT-BYT, mục 5.3 và mục 5.14 | Khi có khiếu nại về một lô cũ, bạn không còn gì trong tay để giải trình |
| Mẫu lưu của các lô còn hạn | Khu vực lưu mẫu của nhà máy cũ | Phụ lục Thông tư 18/2019/TT-BYT, mục 1.4.8 | Mất khả năng kiểm nghiệm đối chiếu khi có tranh chấp về chất lượng |
| Phiếu kiểm nghiệm bản gốc | Nhà máy cũ hoặc phòng thử nghiệm đã thực hiện | Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP yêu cầu phiếu kiểm nghiệm còn trong thời hạn tính đến ngày nộp hồ sơ | Phải chạy lại kiểm nghiệm và lịch nộp hồ sơ bị đẩy lùi |
| File gốc thiết kế bao bì ở định dạng in được | Nhà in hoặc đơn vị thiết kế do nhà máy cũ thuê | Nghĩa vụ ghi nhãn theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP vẫn thuộc về bạn, không thuộc về nhà máy | Không in lại được bao bì, phải thiết kế lại từ đầu và rà soát lại toàn bộ nội dung bắt buộc trên nhãn |
Cột thứ tư là lý do nên đàm phán sớm. Mỗi dòng đều dẫn tới một khoản chi phí hoặc một khoảng thời gian chờ mà bạn phải gánh sau này, trong khi lúc hợp đồng còn hiệu lực thì việc xin bản sao thường chỉ là một dòng trong biên bản bàn giao.
Thứ nhất là công thức chi tiết và tiêu chuẩn cơ sở. Không phải bảng thành phần in trên nhãn, mà là công thức định lượng đầy đủ kèm quy cách nguyên liệu. Đi kèm là bộ chỉ tiêu chất lượng bạn đã công bố áp dụng, tức tiêu chuẩn cơ sở của sản phẩm. Nhà máy mới cần đúng bộ chỉ tiêu này để biết phải sản xuất ra cái gì, và bạn cần nó để kiểm tra sản phẩm mới có còn khớp với hồ sơ đã nộp hay không.
Thứ hai là hồ sơ lô sản xuất của các lô đã chạy. Bài hồ sơ lô sản xuất là gì mô tả bộ tài liệu này gồm những gì. Điểm cần phân biệt là nghĩa vụ lưu giữ của nhà máy khác với quyền được nhận bản sao của bạn. Phụ lục Thông tư 18/2019/TT-BYT tại mục 5.3 yêu cầu hồ sơ ghi chép liên quan đến sản phẩm phải được lưu giữ ít nhất một năm sau ngày hết hạn sử dụng của lô thành phẩm, và mục 5.14 đặt mốc tương tự cho hồ sơ kiểm soát chất lượng của lô. Nhà máy giữ hồ sơ là đúng luật, nhưng nếu hợp đồng không cho bạn quyền yêu cầu bản sao thì khi có khiếu nại sau này, bạn sẽ phải đi xin lại từ một đối tác đã hết quan hệ.
Thứ ba là mẫu lưu. Bài mẫu lưu là gì giải thích vì sao mẫu lưu quyết định ai chịu thiệt khi có tranh chấp về chất lượng. Phụ lục Thông tư 18/2019/TT-BYT tại mục 1.4.8 yêu cầu giữ đủ lượng mẫu đối chiếu để kiểm nghiệm lại khi cần thiết, nhưng không ấn định con số cụ thể, nên chính sách lưu mẫu là thứ do từng nhà máy tự đặt ra trong quy trình nội bộ. Khi chuyển nhà máy, hãy xác nhận bằng văn bản là nhà máy cũ vẫn giữ mẫu lưu của các lô còn hạn, và họ cam kết cung cấp khi có yêu cầu chính đáng.
Thứ tư là phiếu kiểm nghiệm gốc. Bản chụp gửi qua tin nhắn không dùng được cho hồ sơ. Bạn cần bản do phòng thử nghiệm cấp, còn trong thời hạn sử dụng cho mục đích nộp hồ sơ, kèm thông tin đầy đủ về phòng thử nghiệm đã thực hiện.
Thứ năm là file thiết kế bao bì. Đây là thứ hay bị bỏ quên nhất và cũng gây tắc nghẽn nhiều nhất. Nếu nhà máy cũ là bên thuê thiết kế, file gốc có thể đang nằm ở nhà in hoặc ở đơn vị thiết kế mà bạn chưa từng làm việc trực tiếp. Ảnh chụp hộp sản phẩm không thể dùng để in lại. Hãy yêu cầu file gốc ở định dạng in được, kèm thông số màu và quy cách in.
Tất cả năm nhóm trên đều quay về một điểm chung, đó là hợp đồng. Bài hợp đồng gia công thực phẩm chức năng liệt kê những điều khoản nên có ngay từ đầu, và điều khoản bàn giao tài liệu khi chấm dứt là một trong số đó. Nếu bạn đang chuẩn bị ký với nhà máy mới, hãy đưa nó vào ngay bây giờ, vì lúc đó bạn còn ở vị thế đàm phán tốt nhất.
Về quyền chấm dứt, Điều 551 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép mỗi bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình, với điều kiện phải báo trước cho bên kia một thời gian hợp lý; bên đơn phương chấm dứt mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Quyền này tồn tại, nhưng dùng nó khi chưa lấy xong tài liệu là tự cắt đường lui của mình.
💬 Cần rà soát xem hợp đồng hiện tại của bạn có đủ điều khoản bàn giao tài liệu chưa? Liên hệ Sunsho Trade để trao đổi cụ thể, hoặc nhắn nhanh qua Zalo.
Ai sở hữu công thức khi nhà máy cũ là người xây dựng
Nếu công thức do nhà máy cũ nghiên cứu và hợp đồng không nói gì về quyền sở hữu, khả năng cao bạn không mang được công thức đó đi nơi khác.
Công thức sản phẩm thường được bảo vệ dưới dạng bí mật kinh doanh chứ không phải bằng sáng chế. Theo Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung, bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được, khi sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ, và được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết. Một công thức nội bộ của nhà máy thường thỏa mãn cả ba điều kiện này.
Câu hỏi tiếp theo là ai là chủ sở hữu. Khoản 3 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó; đồng thời nêu rõ bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Câu này nghe có vẻ có lợi cho chủ thương hiệu, nhưng thực tế phụ thuộc vào việc bạn có thực sự thuê nhà máy nghiên cứu công thức hay không. Nếu hợp đồng chỉ ghi là gia công theo công thức của nhà máy, hoặc nhà máy đưa ra một công thức có sẵn trong danh mục của họ và bạn chỉ chọn, thì đó không phải công việc bạn thuê họ làm ra. Trong trường hợp đó công thức là tài sản của nhà máy, và họ có quyền từ chối chuyển giao.
Cách phòng tránh phải làm từ đầu chứ không thể sửa về sau. Trong hợp đồng, hãy tách bạch ba khả năng bằng ngôn ngữ rõ ràng. Một là công thức do bạn cung cấp, khi đó ghi rõ nhà máy chỉ được dùng cho đơn hàng của bạn. Hai là công thức do nhà máy phát triển theo yêu cầu và chi phí của bạn, khi đó ghi rõ quyền sở hữu thuộc về bạn kèm nghĩa vụ bàn giao tài liệu khi chấm dứt. Ba là công thức có sẵn của nhà máy, khi đó thỏa thuận trước về phạm vi và điều kiện sử dụng, ít nhất là quyền được tiếp tục sản xuất sản phẩm đang lưu hành trong một thời gian chuyển tiếp.
Nếu bạn đang ở tình huống thứ ba và không thương lượng được, lối ra thực tế là xây dựng lại công thức tại nhà máy mới rồi công bố lại nếu thành phần cấu tạo thay đổi. Tốn kém hơn, nhưng ít rủi ro pháp lý hơn nhiều so với việc mang một công thức không thuộc về mình sang một nhà máy khác.
Có một tài sản trong nhóm này lại đi theo bạn khá gọn, đó là nhãn hiệu — với điều kiện ngay từ đầu chính bạn là bên đứng tên chủ đơn chứ không phải nhà máy. Cách thu xếp việc đó, kèm hai điều kiện của khoản 2 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ dành cho mô hình gia công, nằm ở bài đăng ký nhãn hiệu thực phẩm chức năng.
Cùng công thức ở nhà máy khác không cho ra sản phẩm giống hệt
Đây là điểm mà chủ thương hiệu hay bất ngờ nhất, vì họ giả định công thức là bản vẽ và nhà máy chỉ là công cụ thực hiện, trong khi thực tế thiết bị và tá dược cũng là biến số của sản phẩm cuối.
Lý do thứ nhất là tá dược. Bài tá dược là gì giải thích vì sao những thành phần không phải hoạt chất lại quyết định viên có rã đúng chỗ, có ổn định và có nuốt được hay không. Mỗi nhà máy có danh mục tá dược quen dùng, nguồn cung riêng và kinh nghiệm riêng với từng loại. Nhà máy mới rất có thể sẽ đề nghị thay một vài tá dược cho phù hợp với dây chuyền của họ. Thay đổi đó thường vô hại về mặt kỹ thuật nhưng có thể làm đổi cảm quan của sản phẩm, và cần được đánh giá xem có chạm vào thành phần cấu tạo hay không.
Lý do thứ hai là thiết bị và điều kiện sản xuất. Cùng một công thức viên nén nhưng máy dập khác, lực nén khác, độ ẩm phòng khác thì độ cứng và độ rã của viên sẽ khác. Với viên nang mềm, sự khác biệt còn rõ hơn. Đây chính là lý do nhà máy mới phải chạy lô thử và đánh giá trước khi vào sản xuất thương mại.
Lý do thứ ba là độ ổn định. Bài độ ổn định sản phẩm là gì nêu rõ hạn dùng trên nhãn phải dựa trên nghiên cứu độ ổn định chứ không phải do nhà máy tự chọn, và bao bì là một phần của kết quả đó. Khi đổi nhà máy, cả ba biến số đều có thể đổi cùng lúc là công thức chi tiết, quy trình và bao bì. Dữ liệu độ ổn định cũ được tạo ra ở điều kiện cũ, nên không mặc nhiên đúng cho sản phẩm mới. Nếu bạn giữ nguyên hạn dùng trên nhãn mà không có dữ liệu tương ứng, đó là một điểm yếu sẽ lộ ra khi bị hậu kiểm. Câu điều kiện bảo quản in trên nhãn cũng phải được rà lại cùng lúc, vì nó gắn với đúng bộ dữ liệu độ ổn định đã chạy ở nhà máy cũ và trong bao bì cũ — bài bảo quản và vận chuyển thực phẩm chức năng trình bày cách ba tài liệu này phải khớp nhau.
Hệ quả thực hành rất đơn giản. Hãy coi lô đầu tiên ở nhà máy mới là lô cần kiểm nghiệm đầy đủ, không phải lô sản xuất bình thường. Trong danh mục chỉ tiêu, nhóm đáng chú ý nhất khi đổi cơ sở là vi sinh vật, vì nhóm này phụ thuộc vào nước sản xuất, thiết bị và môi trường phòng đóng gói của chính nhà máy đó chứ không phụ thuộc nguyên liệu — cách đọc và cách lên danh mục nằm ở bài QCVN 8-3 về giới hạn vi sinh vật. Và hãy thống nhất trước với nhà máy mới về việc ai chịu chi phí nếu lô thử không đạt chỉ tiêu đã công bố.
Ở đây cũng cần nhắc lại một câu bắt buộc trong mọi truyền thông về nhóm sản phẩm này. Thực phẩm bảo vệ sức khỏe không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Khi nhà máy mới nằm ở Nhật Bản thì thủ tục đổi hoàn toàn
Chuyển từ gia công trong nước sang gia công tại Nhật Bản rồi nhập thành phẩm về là thay đổi lớn nhất trong nhóm này, vì bạn đổi cả xuất xứ, cả bộ hồ sơ công bố và cả cách hàng đi qua cửa khẩu.
Về hồ sơ công bố, vì xuất xứ thay đổi nên bạn thuộc diện phải công bố lại theo khoản 4 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, và hồ sơ chuyển sang bộ dành cho hàng nhập khẩu tại khoản 1 Điều 7. Điểm b khoản 1 Điều 7 yêu cầu giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc giấy chứng nhận xuất khẩu hoặc giấy chứng nhận y tế do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất xứ cấp, đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Điểm đ khoản 1 Điều 7 yêu cầu giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu GMP hoặc chứng nhận tương đương đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe nhập khẩu. Bài gia công thực phẩm chức năng tại Nhật Bản mô tả toàn bộ quy trình từ ý tưởng tới lúc hàng lên kệ.
Có một mốc thời điểm đáng chú ý ngay lúc này. Công ước La Hay ngày 05/10/1961 về miễn hợp pháp hóa đối với giấy tờ công của nước ngoài, thường gọi là Công ước Apostille, bắt đầu có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 11/9/2026 sau khi Việt Nam nộp văn kiện gia nhập ngày 31/12/2025. Nhật Bản là thành viên Công ước từ ngày 27/7/1970. Nghĩa là chuỗi hợp pháp hóa lãnh sự nhiều tầng cho giấy tờ Nhật có thể được thay bằng một chứng nhận Apostille. Nếu kế hoạch chuyển nhà máy của bạn nằm quanh mốc này, hãy hỏi rõ đơn vị làm hồ sơ đang chuẩn bị theo cách nào.
Về khâu cửa khẩu, đây là chỗ nhiều bài viết trên mạng nói sai theo hướng dọa. Khoản 1 Điều 13 Nghị định 15/2018/NĐ-CP xếp sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm vào diện được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu, với điều kiện chung nêu ở phần mở đầu Điều 13 là trừ các trường hợp có cảnh báo về an toàn thực phẩm. Vì thực phẩm bảo vệ sức khỏe bắt buộc phải đăng ký bản công bố, sản phẩm của bạn thường rơi đúng vào diện miễn này sau khi có Giấy tiếp nhận mới. Điều cần nhớ là miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu không đồng nghĩa với miễn thủ tục hải quan, và cũng không xóa nghĩa vụ hoàn tất công bố lại trước khi đặt lô thương mại đầu tiên.
Về nhãn, hàng sản xuất tại Nhật sẽ có nhãn gốc tiếng Nhật, nên bạn phát sinh nghĩa vụ mới là nhãn phụ tiếng Việt. Đây là việc không tồn tại khi bạn còn gia công trong nước. Nội dung bắt buộc trên nhãn phụ tiếng Việt tuân theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026, văn bản đã thay thế Nghị định 43/2017/NĐ-CP và Nghị định 111/2021/NĐ-CP về nhãn hàng hóa, nên hãy đối chiếu với văn bản này chứ đừng dùng lại bản checklist cũ.
Checklist tám mục trước khi chuyển nhà máy
Tám mục dưới đây nên được hoàn tất trước khi bạn gửi thông báo chấm dứt cho nhà máy cũ, chứ không phải sau đó.
Một, xác định thay đổi của bạn thuộc diện công bố lại hay chỉ thông báo bằng văn bản, đối chiếu với ba yếu tố tên sản phẩm, xuất xứ và thành phần cấu tạo tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP.
Hai, đọc lại hợp đồng hiện tại để xem có điều khoản nào về quyền sở hữu công thức, bàn giao tài liệu và thời hạn báo trước khi chấm dứt hay không.
Ba, lập danh sách tài liệu cần lấy lại theo năm nhóm ở phần trên, gửi bằng văn bản cho nhà máy cũ và yêu cầu xác nhận.
Bốn, xác nhận nhà máy cũ vẫn giữ mẫu lưu và hồ sơ lô của các lô còn hạn, kèm cam kết cung cấp khi có yêu cầu chính đáng.
Năm, kiểm tra nhà máy mới có đúng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu GMP còn hiệu lực hay không, và xin bản sao ngay từ giai đoạn báo giá.
Sáu, thống nhất bằng văn bản với nhà máy mới về công thức chi tiết, tiêu chuẩn cơ sở áp dụng và ai chịu chi phí nếu lô thử không đạt.
Bảy, lên lịch kiểm nghiệm và đánh giá độ ổn định cho lô sản xuất tại nhà máy mới, tính lùi từ ngày dự kiến nộp hồ sơ chứ không tính xuôi từ ngày bắt đầu chuẩn bị.
Tám, rà soát toàn bộ nhãn để cập nhật tên và địa chỉ cơ sở sản xuất, xuất xứ nếu có thay đổi, và bổ sung nhãn phụ nếu chuyển sang hàng nhập khẩu.
Nếu bạn đang giữ hàng tồn sản xuất tại nhà máy cũ, hãy tính cả kịch bản hai nguồn hàng cùng lưu hành trong giai đoạn chuyển tiếp, vì lúc đó trên thị trường sẽ có hai lô với hai nơi sản xuất khác nhau và bạn phải giải trình được cả hai khi bị hậu kiểm.
💬 Sunsho Trade là công ty thương mại Nhật — Việt tại TP.HCM, điều phối gia công thành phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm tại nhà máy đối tác đạt chuẩn GMP ở Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời có thể nhập nguyên liệu chuẩn Nhật kèm CoA khi công thức của bạn cần. Xem dịch vụ gia công OEM/ODM hoặc gửi yêu cầu tư vấn để được rà soát lộ trình chuyển nhà máy cho đúng sản phẩm của bạn.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
1. Đổi nhà máy gia công có bắt buộc phải công bố lại sản phẩm không?
Không tự động. Khoản 4 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP chỉ nêu ba yếu tố làm phát sinh nghĩa vụ công bố lại là tên sản phẩm, xuất xứ và thành phần cấu tạo. Đổi nhà máy trong cùng một nước mà giữ nguyên công thức không thuộc ba yếu tố này, nên chỉ cần thông báo bằng văn bản đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Ngược lại, chuyển sang nhà máy ở nước khác thì xuất xứ thay đổi và bạn phải công bố lại.
2. Nhà máy cũ từ chối giao hồ sơ lô và công thức thì tôi làm được gì?
Nếu hợp đồng không có điều khoản bàn giao tài liệu thì khả năng cưỡng chế rất hạn chế. Điều 553 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ quy định hoàn trả nguyên vật liệu còn lại khi hợp đồng gia công chấm dứt, không nhắc tới tài liệu kỹ thuật. Cách xử lý thực tế là thương lượng khi hợp đồng còn hiệu lực và còn khoản thanh toán chưa hoàn tất, đồng thời đưa điều khoản này vào hợp đồng với nhà máy mới ngay lần ký đầu tiên.
3. Công thức do nhà máy cũ nghiên cứu thì có thuộc về tôi không?
Phụ thuộc vào hợp đồng. Khoản 3 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ nêu bí mật kinh doanh mà bên làm thuê có được trong khi thực hiện công việc được thuê thuộc quyền sở hữu của bên thuê, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nhưng nếu hợp đồng chỉ ghi là gia công theo công thức sẵn có của nhà máy thì đó không phải công việc bạn thuê họ nghiên cứu, và công thức là tài sản của họ.
4. Sản phẩm ở nhà máy mới có cần kiểm nghiệm lại không?
Có, và nên coi đây là việc bắt buộc dù thủ tục hành chính của bạn chỉ ở mức thông báo bằng văn bản. Thiết bị, tá dược và điều kiện sản xuất khác nhau đều ảnh hưởng tới sản phẩm cuối, nên kết quả kiểm nghiệm cũ không đại diện cho lô mới. Ngoài ra hồ sơ đăng ký theo Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP yêu cầu phiếu kết quả kiểm nghiệm còn trong thời hạn quy định tính đến ngày nộp hồ sơ.
5. Chuyển sang gia công tại Nhật thì hàng về có phải kiểm tra nhà nước từng lô không?
Theo khoản 1 Điều 13 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm thuộc diện được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu. Điều kiện chung nêu ở phần mở đầu Điều 13 là trừ các trường hợp có cảnh báo về an toàn thực phẩm, nên miễn trừ này không tuyệt đối và bạn vẫn phải hoàn tất công bố lại trước khi đặt lô thương mại đầu tiên.